Bài viết bình sách với tác phẩm “Khát vọng sống” (Irving Stone) do bạn Nguyễn Lộc đăng ký dự thi là một trong 7 bài viết xuất sắc nhất được chọn lọc và chấm điểm cao từ nhiều giám khảo trong cuộc thi “BÌNH SÁCH – CHỦ ĐỀ HY VỌNG” được Bá Tân Sách tổ chức. Bài viết giữ nguyên toàn bộ nội dung của tác giả, các vấn đề về tác quyền khác vui lòng liên hệ Bá Tân Sách để được giải đáp.
————————-
Mỗi người đến thế giới này đều có sứ mạng của riêng mình. Có người sống cho bản thân, có người sống vì người khác, có người sống vô tư lự, có người sống chật vật khó khăn. Rốt cuộc, đó là sự sắp đặt của số phận hay là lựa chọn của chính mình? Bất kể là vì lý do gì, chắc chắn sẽ luôn có lý do để bạn hy vọng và kiên trì tiếp tục. Chỉ là bạn không biết bản thân phải kiên trì như thế nào. Nếu bạn đang băn khoăn và chênh vênh giữa đời, hãy thử mở cuốn sách nổi tiếng “Khát vọng sống” của cha đẻ tiểu thuyết tiểu sử thế giới, Irving Stone (1903-1989), và đọc về câu chuyện cuộc đời họa sĩ vĩ đại người Hà Lan – Vincent van Gogh. Bạn sẽ phát hiện ra rằng, cuộc đời mỗi người không có năm tháng khổ đau nào là không thể vượt qua. Chỉ có sẵn sàng trải qua hàng ngàn lần tôi luyện, bạn mới có thể rèn giũa chính mình từ lò luyện cuộc sống trần gian này. Chỉ khi kiên trì, chúng ta mới có thể rèn giũa nên một bộ giáp cứng cáp, đạt tới được một cái tôi mới mẻ.
Kiên trì không phải là sự ngoan cố mù quáng, mà là khả năng tĩnh tâm để tìm thấy hướng đi đúng đắn giữa những khủng hoảng và mơ hồ. Van Gogh bước vào đời với vô vàn khó khăn và thất bại. Xuất thân từ gia đình khá danh giá, có cha là mục sư, nhưng tuổi thơ lại cô độc, ông bắt đầu sự nghiệp với công việc bán tranh năm 16 tuổi. Dù làm việc hết mình, bản tính lương thiện đã khiến ông xung đột với cách kinh doanh của người chủ. Ông khuyên khách hàng đừng mua tranh kém chất lượng với giá cắt cổ, và đề nghị bán những bức tranh tốt với giá mà người nghèo có thể mua được. Kết quả, ông bị buộc phải nghỉ việc. Hy vọng gia đình đặt vào ông là trở thành một mục sư. Van Gogh học thần học một cách chăm chỉ, nhưng rồi chính ông lại chán ghét sự cứng nhắc, giáo điều đó. Ông bất định và tự hỏi liệu mình có thực sự phù hợp với việc này không. Sau đó, được cử đến vùng mỏ Borinage nghèo khó nhất nước Bỉ làm mục sư không lương, ông lao vào công việc với một trái tim nhiệt huyết và bác ái. Ông sống cùng những người thợ mỏ, chia sẻ thức ăn, quần áo, thậm chí nhường cả nhà ở của mình. Ông nhận ra họ chỉ đang “tồn tại” chứ không được “sống”. Dù được những người thợ mỏ rất yêu quý, Hội Thánh lại kết tội ông đang làm việc trái lương tâm cho “những con chó bẩn thỉu”, làm ô uế sự trang nghiêm của Thiên Chúa giáo và đuổi việc ông. Lại một lần nữa thất bại. Van Gogh rơi vào cảm giác lạc lõng tột độ: “Tôi khao khát thành công, nhưng chẳng làm được gì. Đâu mới là vị trí phù hợp của tôi trong cuộc đời này đây?”. Giống như nhiều người trẻ ngày nay khi đối diện thất bại, ta dễ chạy theo số đông, tìm kiếm sự công nhận từ bên ngoài, hoặc chìm vào những “liều thuốc gây mê tạm thời” như game, mạng xã hội, hay các thứ gây nghiện để trốn tránh thực tại. Nhưng Van Gogh đã chọn một cách khác. Ông tìm đến sự tĩnh tâm thông qua việc đọc sách, ông nói: “Đọc sách luôn là một niềm vui tuyệt vời và bền vững nhất.“ Trong những tháng ngày bơ vơ nhất, ông đọc sách để tìm kiếm sự hướng dẫn. Đó không phải là sự trốn chạy, mà là một sự chủ động để lắng nghe nội tâm, hiểu rõ chính mình và tìm kiếm cơ hội quý giá. Đến khi 27 tuổi, chính trong một khoảnh khắc tĩnh lặng sau giờ đọc sách, nhìn thấy một người thợ mỏ già bước qua cánh đồng, Van Gogh đã vẽ lại hình ảnh ấy. Như một tia sáng xóa tan màn đêm: “Bây giờ tôi mới nhận ra khả năng vẽ của mình. Tôi muốn trở thành một nghệ sĩ. Đây là khát vọng cả đời của tôi.” Sự kiên trì tìm kiếm và tĩnh tâm cuối cùng đã dẫn lối, giúp ông tìm thấy la bàn cho cuộc đời mình. Điều này cho ta thấy, kiên trì trong khủng hoảng trước hết là kiên trì lắng nghe chính mình, chứ không phải cố chấp với một hướng đi sai lầm.

Kiên trì là sự bám víu không lay chuyển vào ngọn lửa bên trong mình, biến nghịch cảnh thành nhiên liệu cho sự thành công được tái sinh và rực sáng. Khi đã tìm thấy đam mê, Van Gogh lao vào với một nghị lực phi thường, dù mọi điều kiện đều chống lại ông. Ở tuổi 27, ông bắt đầu học vẽ từ con số không, muộn hơn rất nhiều so với các danh họa cùng thời. Ông không có kiến thức căn bản về giải phẫu, tỉ lệ. Ông nghèo đến mức phải sống nhờ em trai, có khi 11 ngày không một xu dính túi. Tranh của ông bị chê là “xấu xí” vì không giống với chuẩn mực tân cổ điển đương thời. Ông thất bại trong tình yêu và chìm trong cô độc. Thế nhưng, ông không hề than vãn. Trong nhật ký, ông viết: “Tôi nguyện chọn con đường chân thực và gian khó. Đi trên con đường này, con người sẽ không bị mục nát. Tôi tuyệt đối không từ bỏ mục tiêu.” Kiên trì với ông là hành động cụ thể: đi bộ hơn 80 km với đôi chân rớm máu để học hỏi; miệt mài rèn luyện kỹ thuật ngày đêm; vác giá vẽ ra biển trong mọi thời tiết; đọc sách giải phẫu để hiểu cơ thể con người. Trong 10 năm cuối đời ngắn ngủi, ông sáng tạo một khối lượng tác phẩm khổng lồ: 864 bức sơn dầu, 1037 bức phác thảo và 150 bức màu nước. Sự kiên trì ấy xuất phát từ ngọn lửa nội tâm mà ông luôn giữ gìn: “Trong lòng ai cũng có một ngọn lửa, những kẻ đi qua chỉ có thể thấy khói. Cho dù không ai đến để sưởi ấm thì tôi vẫn bảo vệ ngọn lửa ấy.” Ông quả thật là “chiến sĩ cô đơn” kiên cường. Khi các họa sĩ khác chiều theo thị hiếu thượng lưu để kiếm sống, Van Gogh một mình vẽ theo tiếng gọi của trái tim. Ông vẽ mặt trời rực lửa, những cánh đồng hoa hướng dương vàng rực, bầu trời đêm xoáy cuộn trong “Đêm đầy sao”, hay vẻ đẹp bi ai của những người lao động trong “Những người ăn khoai”. Ông không kỳ vọng được hiểu, mà dùng chính nghệ thuật thuần khiết để đáp lại thế giới. Do đó, thành công của Van Gogh được tái định nghĩa một cách sâu sắc. Đó không phải là sự giàu có, danh tiếng hay được công nhận khi còn sống. Trên thực tế, trong sự nghiệp họa sĩ của mình, ông chỉ bán được duy nhất một bức tranh. Thành công của ông là việc giữ cho tâm hồn và đam mê không bị “mục nát” trước nghịch cảnh. Chính việc kiên trì đến cùng đã biến cô đơn thành sức mạnh, biến khổ đau thành kỹ năng, và cuối cùng, khai sinh một ngôn ngữ nghệ thuật hoàn toàn mới, mở ra con đường riêng và trở thành bất tử. Sự kiên trì ấy đã biến những hạt giống tưởng chừng lạc lối thành một khu rừng nghệ thuật vĩ đại. Như chính ông nói: “Nếu bạn nghe thấy giọng nói bên trong mình nói rằng ‘ngươi không thể vẽ’, thì hãy vẽ bằng mọi giá đi, và giọng nói đó sẽ im lặng.’
Cuộc đời Van Gogh là minh chứng cho một sự thật, kiên trì không hứa hẹn cho ta một cuộc sống bình yên, dễ dàng, hay được công nhận tức thì. Nhưng nó hứa hẹn một điều lớn lao hơn, nhờ kiên trì mà rèn giũa nên một con người mạnh mẽ và một tâm hồn không thể bị hủy hoại. Dù bị người đương thời gọi là “điên”, Van Gogh đã sống với một sự kiên trì đẹp đẽ nhất, đó là kiên trì với tiếng nói chân thực nhất của nghệ thuật trong ông. Từ cuộc đời ấy, ta có thể tìm thấy nguồn cảm hứng và niềm hy vọng để sống thật với chính mình. Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, chỉ cần một khoảnh khắc nào đó giúp ta thức tỉnh, kiên định và trở về với “tôi”, thì đối với bản thân sẽ là điều hạnh phúc nhất.
