Bài viết bình sách với tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) do bạn Dương Thành Trung đăng ký dự thi trong cuộc thi “BÌNH SÁCH – CHỦ ĐỀ HY VỌNG” được Bá Tân Sách tổ chức. Bài viết giữ nguyên toàn bộ nội dung của tác giả, các vấn đề về tác quyền khác vui lòng liên hệ Bá Tân Sách để được giải đáp.
————————-
Thoạt đầu, “Nỗi buồn chiến tranh” không có vẻ là một tác phẩm phù hợp với chủ đề hy vọng. Nhưng khi nhìn cuốn tiểu thuyết như một chỉnh thể, một tập hợp của muôn vàn vạn trạng nỗi đau, ta sẽ thấy mọi thứ được kết dính với nhau lại chính nhờ hy vọng.
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được xây dựng trên hai lớp tự sự đan xen. Lớp thứ nhất là câu chuyện của Kiên, một cựu chiến binh cố gắng viết lại ký ức chiến tranh qua những trang bản thảo hỗn loạn. Lớp thứ hai thuộc về khung kể chuyện: bản thảo dang dở của Kiên được người đàn bà câm thu gom lưu giữ, rồi sau đó rơi vào tay một nhân vật “tôi”, được biên tập lại. Bảo Ninh sử dụng thủ pháp dòng ý thức để tái hiện cách thức hoạt động của tâm trí sau chấn thương. Ký ức không đến theo trình tự mà ập xuống bất chợt. Thao tác xen lẫn hai lớp tự sự không tách bạch câu chuyện ra thành nhiều phần rời rạc, mà liên kết các lớp ấy, tạo thành một cấu trúc chồng chéo lên nhau, khéo léo xoá nhoà ranh giới giữa người kể và người được kể, giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức và hư cấu.

Cấu trúc này phản ánh chính xác cấu trúc nhân cách của Kiên – một con người bị phân mảnh. Kiên trước chiến tranh là thiếu niên yêu Phương trong sáng. Kiên trong chiến tranh là người lính chứng kiến cái chết, sự tàn bạo. Kiên sau chiến tranh là kẻ phải chật vật để sống sót với ký ức. Ba phiên bản của Kiên cùng tồn tại trong một thân xác, kéo xé nhau. Dòng ý thức phản ánh sự kéo xé ấy. Nhưng việc Kiên cầm bút viết, dù biết ký ức quá đau khi nhìn lại, đã là một hành động hy vọng. Hy vọng rằng bằng cách viết, bằng cách sắp xếp lại những mảnh vỡ, có thể tìm được ý nghĩa hoặc ít nhất là cách sống với nỗi đau. Đây không phải hy vọng về sự chữa lành hoàn toàn, mà là hy vọng rằng nỗi đau có thể được hiểu, và khi đã hiểu thì có thể sống chung với nó, với những vết thương sâu nặng đến mức không thể lành nổi.
Xét đến nhân vật cũng cần phải lưu tâm đến não trạng. Não trạng thời chiến tạo ra những lý tưởng mơ hồ về chiến tranh, đồng thời cũng đè nén tình cảm của Kiên. Ngược lại với Kiên, Phương xem nhẹ lý tưởng và tin vào tự do cá nhân. Trong đêm trước khi ra trận, khi có cơ hội gần gũi với Phương, Kiên không dám tiến tới. Não trạng chiến tranh không cho phép tình cảm cá nhân được thể hiện. Lý tưởng cách mạng, kỷ luật tập thể đè nặng lên tình yêu riêng tư.
Kiên hỏi Phương rằng em sẽ đi đâu, Phương đáp lại rằng:
“Đi vào chiến tranh xem nó ra sao? Có thể chỉ là sự khủng khiếp […] Có thể là sẽ chết nữa. Khi đó sẽ ngủ, ngủ một giấc dài. Nhưng nếu chỉ có chết không thôi thì có gì đáng để anh háo hức vậy. Em nghĩ nó là hấp dẫn lắm. Em sẽ đi? Và anh thì thật ngốc.”
Lời nói này vừa khinh thường vừa đầy ám ảnh – sự hấp dẫn của chiến tranh không phải từ lý tưởng cao cả mà từ cái gì đó tối tăm hơn, một sự cuốn hút của cái chết, của sự tàn phá.
Nhưng khi chiến tranh kết thúc, khi Bảo Ninh, thông qua Kiên, qua nhân vật nhà văn, cố gắng viết lại những cảm xúc, ký ức bị đè nén ấy, xã hội lại liên tục xuất hiện những làn sóng phủ định ồ ạt. Não trạng hòa bình hóa ra cũng không sẵn sàng cho sự thật. Những gì Bảo Ninh viết bị nhiều người xem là không phù hợp, thậm chí là phản bội lý tưởng cách mạng, bôi nhọ hình tượng người lính. Nhưng Bảo Ninh vẫn viết. Tác phẩm vẫn tồn tại. Đó có phải là sự đứng vững của hy vọng? Chắc chắn. Đó là hy vọng rằng sự thật, dù không được chào đón, vẫn cần được nói ra.
Cả Phương, có vẻ có những điểm trái ngược với Kiên, hay với tinh thần vượt lên nỗi đau của ngòi bút Bảo Ninh, cũng mang trong mình một niềm hy vọng. Phương cũng bị chiến tranh phá hủy. Phương bị tước đi phẩm giá mà không thể kháng cự, không được bảo vệ – sự cưỡng hiếp. Phương chọn cách sống như thể chưa có gì xảy ra, và đây cũng là một hình thức hy vọng. Có lẽ sự quên đi ấy không sửa chữa được điều gì cả, cuối cùng Phương chọn rời đi, cả Phương lẫn Kiên đều là những con người không thể hàn gắn được vết nứt trong bản thân, nhưng đến cuối cùng bức thư của người đồng đội cũ đến được tay Kiên để Kiên biết được rằng Phương trong giây phút đau thương nhất vẫn chọn yêu Kiên hết mực, đến rồi Kiên chọn để ký ức của mình tuôn trào ra những trang giấy, để rồi “Nỗi buồn chiến tranh” vẫn được viết ra.
Chính những chiều kích hay cách thức khác nhau của hy vọng cho thấy điều cốt tử nhất: con người sẽ luôn tìm được cách sống tiếp, dù bằng giá nào. Kiên hy vọng vào việc hiểu và chấp nhận. Phương hy vọng vào việc bắt đầu lại và quên đi. Cả hai đều đau đớn, cả hai đều không hoàn hảo, nhưng cả hai đều là cố gắng để không bị nghiền nát hoàn toàn bởi chiến tranh.
Về mặt nghệ thuật, nhiều người đánh giá “Nỗi buồn chiến tranh” ngang tầm với những tác phẩm văn học chiến tranh lớn của thế giới. Thủ pháp dòng ý thức, cấu trúc phi tuyến tính là hình thức tất yếu để tái hiện kinh nghiệm chấn thương. Ngôn ngữ của Bảo Ninh giản dị nhưng đầy sức gợi, vừa hùng hồn, đôi lúc trầm lắng và hầu như từng mảng tiểu thuyết đều thấm đẫm cảm xúc.
Khi “Nỗi buồn chiến tranh” ra mắt năm 1991, nó tạo nên một cuộc tranh cãi gay gắt, kéo dài đến tận hôm nay. Xã hội phản ứng theo hai hướng trái ngược nhau. Luồng phản bác cho rằng tác phẩm này xuyên tạc chiến tranh. Họ cho rằng Bảo Ninh miêu tả chiến sĩ yếu đuối, hoang mang, thậm chí tàn bạo. Những cảnh tả tình dục được coi là khiêu dâm, rẻ tiền, không cần thiết. Một số người cho rằng tác phẩm phản bội lý tưởng cách mạng, làm lu mờ ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh giải phóng. Luồng tôn vinh, ngược lại, cho rằng đây là tác phẩm dũng cảm nhất của văn học Việt Nam đương đại. Lần đầu tiên có một tiếng nói dám nói về mặt trái của chiến tranh, không phải để phủ nhận những chiến tích đầy ý nghĩa để mang về hoà bình, mà để thừa nhận những vết thương chẳng nhiều người muốn phơi bày.
Đứng từ góc độ văn chương, mở lòng để tiếp nhận “Nỗi buồn chiến tranh”, có thể thấy rõ Bảo Ninh không viết về lịch sử hay chiến tích mà viết về con người. Con người trong chiến tranh không chỉ dũng cảm mà còn sợ hãi, không chỉ cao thượng mà còn tàn bạo, không chỉ tồn tại trong lý tưởng mà còn trong xác thịt. Những cảnh tả tình dục nhơ nhớp hay hình tượng kì lạ không phải để kích thích hay giật gân mà để cho thấy con người trong cực hạn vẫn tìm kiếm sự sống, sự ấm áp, dù bằng cách nào.
Cuối cùng, “Nỗi buồn chiến tranh” không phải về chiến tranh mà về con người sau chiến tranh. Nó về câu hỏi: làm sao sống tiếp khi đã trải qua điều không thể chịu đựng?

Chiến tranh là trái phá ngoại hạng, hủy diệt hy vọng và để lại dư chấn kéo dài. Nhưng sau đó hy vọng vẫn được sinh ra, được tái sinh, cuộn trào trong lòng đời sống bao thế hệ. Vậy nên “Nỗi buồn chiến tranh” không chỉ hiện hữu nhờ hy vọng từ người viết, mà đồng thời cũng chính là sự đứng vững của hy vọng.
“Rất nhiều năm về sau này, trong một đêm chìm đắm vào những thất vọng khô cằn, Kiên mơ thấy đời mình hóa thân thành một dòng sông trôi chảy trước mặt để đưa anh về vùng chết, thì đúng giây phút cuối cùng sắp buông rơi mình, Kiên lại chợt nghe thấy tiếng gọi của Phương từ buổi hoàng hôn cay đắng năm xưa cất lên kêu gọi và lay thức anh. Tiếng gọi cuối cùng ấy của mối tình đầu cũng đồng thời là vang âm đã nhập tâm về một cuộc đời hạnh phúc, một tương lai tươi sáng mặc dù đã bị bỏ lỡ, đã bị buông rơi nhưng không hề mất đi, mãi mãi còn đó, chờ đợi anh trên đường quá khứ.” — Trích Nỗi buồn chiến tranh.
Đây chính là hy vọng trong đổ vỡ – không phải hy vọng về tương lai mà hy vọng từ quá khứ. Cái đã mất không thực sự mất đi. Nó “mãi mãi còn đó”, không để cứu vớt hiện tại mà để nhắc nhở rằng đã từng có lúc mọi thứ chưa vỡ. Và chính sự nhớ này – dù đau đớn – là điều ngăn Kiên không buông rơi hoàn toàn. Đó là hy vọng của người đã mất tất cả nhưng vẫn cố gắng tìm lại chính mình giữa đống đổ nát.