THANH HÓA QUAN PHONG – VƯƠNG DUY TRINH (Sách Xưa)
Tác giả: Vương Duy Trinh
Dịch giả: Nguyễn Duy Tiếu
Kích thước: 24x16cm
Loại bìa: Bìa mềm
Số trang: 240
Năm xuất bản: 1973
NXB: Tủ Sách Cổ Văn – Ủy Ban Dịch Thuật
Tình trạng: rất đẹp (9.5/10)
Liên hệ
Mô tả
Thanh Hóa Quan Phong là một tác phẩm địa chí – phong tục học quan trọng của Vương Duy Trinh
Thanh Hóa Quan Phong được Vương Duy Trinh biên soạn vào năm Thành Thái thứ 15 (1903), khi ông đang giữ chức Tổng đốc Thanh Hóa. Thanh Hóa Quan Phong được viết bằng chữ Nôm, khoảng 70 tờ (tương đương 140 trang), ghi chép khá toàn diện về Thanh Hóa: địa lý, núi sông, các phủ huyện và châu, phong tục tập quán, dân ca, ca dao, sinh hoạt nông nghiệp, sản vật địa phương, nhân vật lịch sử và truyền thống văn hóa xứ Thanh.
Thanh Hóa Quan Phong là một tác phẩm rất đáng chú ý vì nó nằm ở giao điểm của ba dòng: địa chí học, dân tộc học sơ kỳ và văn học Nôm cuối Nguyễn. Khi phân tích tác phẩm này, có thể nhìn từ nhiều lớp: mục đích biên soạn, cấu trúc tri thức, cái nhìn về con người xứ Thanh và vị trí của nó trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
Điểm rất đặc biệt của Thanh Hóa Quan Phong là nó không chỉ mang tính “địa chí hành chính” như nhiều sách cùng thời, mà còn phản ánh “quan phong” — tức phong tục, tính cách, khí chất và đời sống tinh thần của người Thanh Hóa đầu thế kỷ XX. Trong sách có nhiều bài dân ca, lời hát dân gian và cả ghi chép về văn hóa các dân tộc miền núi Thanh Hóa.
Thanh Hóa Quan Phong không chỉ là tài liệu lịch sử mà còn là kho tư liệu ngôn ngữ học. Bản dịch của Nguyễn Duy Tiếu rất quan trọng đối với việc tiếp nhận Thanh Hóa Quan Phong trong thời hiện đại do bản nguyên tác của Vương Duy Trinh viết bằng chữ Nôm còn bản dịch của Nguyễn Duy Tiếu là bản phiên âm sang chữ quốc ngữ và “phiêu diễn” (diễn giải mềm mại để người hiện đại đọc được”).
Việc nằm trong Tủ Sách Văn Hóa càng khẳng định giá trị của ấn phẩm. Đây là chương trình xuất bản đầy tham vọng nhằm hệ thống hóa và bảo tồn các giá trị cổ văn. Những quyển sách này thường được in ấn chỉn chu, có phần nguyên tác chữ Hán đi kèm để đối chiếu, thể hiện thái độ làm việc nghiêm túc của Ủy Ban Dịch Thuật bấy giờ.





