“BIÊN NIÊN KÝ CHIM VẶN DÂY CÓT” (HARUKI MURAKAMI) – TỪ VỰC THẲM ĐẾN RÌA ÁNH SÁNG – HY VỌNG PHÁ DỠ NHỮNG BỨC TƯỜNG
Bài viết bình sách với tác phẩm Biên Niên Ký Chim Vặn Dây Cót (Haruki Murakami) do bạn Phạm Thị Anh Thư đăng ký dự thi là một trong 7 bài viết xuất sắc nhất được chọn lọc và chấm điểm cao từ nhiều giám khảo trong cuộc thi “BÌNH SÁCH – CHỦ ĐỀ HY VỌNG” được Bá Tân Sách tổ chức. Bài viết giữ nguyên toàn bộ nội dung của tác giả, các vấn đề về tác quyền khác vui lòng liên hệ Bá Tân Sách để được giải đáp.
————————-
“Những bức tường, những bức tường, những bức tường
có mặt khắp nơi,
trong những lời vui đoàn tụ
trong những lời buồn chia tay,
những bức tường ta không xây
những bức tường không thể phá…
Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ
cười nói huyên thuyên trên những bức tường này.”
(Trương Đăng Dung)
Nếu chỉ dùng ba từ để miêu tả thời đại của chúng ta, tôi sẽ gọi nó thời đại của “những-bức-tường”. Chúng ta đang sống trong một nghịch lý của sự kết nối toàn cầu nhưng cô độc toàn bích. Với sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân, những diễn ngôn quyền lực, những cuộc di dân ồ ạt lên nền tảng số – những nền tảng hai chiều, phân cực, giả tạo ngụy trang một cách tinh tế rằng nó đang kết nối con người trong một mạng lưới khổng lồ, những tội ác kinh hoàng của con người với nhau khiến ta dần mất lòng tin vào kẻ khác, và vô số những vấn đề căn cốt khác, đã và đang dần hình thành một xã hội mất kết nối. Có lẽ, chưa bao giờ con người ta trôi dạt trong những đường biên khác nhau một cách khủng khiếp như trong xã hội hiện đại.

Bạn Phạm Thị Anh Thư – Tác giả bài viết bình sách “Biên Niên Ký Chim Vặn Dây Cót”
Để từ đó, mối bận tâm về sự phân ly giữa người với người trong xã hội hiện đại đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực, một “vết sẹo” không ngừng rỉ máu trong thế giới văn chương của Haruki Murakami. Có thể dễ dàng nhận ra rằng, chủ đề “con người mất kết nối” luôn trở đi trở lại trong các sáng tác của ông. Con người trong tiểu thuyết Murakami sống trong lay lắt, trong nỗi cô đơn, trống rỗng và xa lạ, sống mà tưởng chừng như mình chỉ là “cái bóng” mờ nhòe của chính mình, sống trong sự không ngừng rượt đuổi, bấu víu, níu giữ sự kết nối với những mối quan hệ ngỡ như đã “gắn bó”. Từ sự “bất lực tình dục” của Naoko đối với người bạn trai Kizuki, những cuộc tình tay ba không bao giờ trọn vẹn (Rừng Na Uy), đến sự phân ly của người tình 17 tuổi khi cô nói với nhân vật “tôi” rằng cô chỉ là “chiếc bóng” của cô, và bản thể thật của cô đã trôi lạc phía bên kia bức tường (Thành phố và những bức tường bất định). Nhưng cũng chính vì thế, mà những con người ấy mang niềm HY VỌNG lớn lao là phá dỡ những bức tường giữa ta-người và ta-chính nó, để được tái kết nối với tha nhân và bản thể bị thất lạc của mình. Cái hy vọng ấy mãnh liệt, ray rứt, nồng nàn, rằng tôi muốn phá bỏ chính những bức tường, tôi muốn đi tìm chính tôi, muốn tái kết nối với những con người tôi yêu thương, muốn lột trần căn tính thật mà những người xung quanh đã và đang che giấu. Dõi theo cuốn tiểu thuyết “Biên niên ký chim vặn dây cót”, tôi cũng bắt gặp niềm hy vọng lớn lao của Okada Toru trong việc truy tìm người vợ Kumiko – một người vợ với khuôn diện “thực”, căn tính “thực”, như biểu tượng của niềm hy vọng được lột trần những lớp mặt nạ mà con người ta tự che giấu lẫn nhau, để được sống và kết nối với phần chân thực nhất giữa người-người, để được gắn kết trong một liên kết bền chặt nơi con người không cần là ai khác ngoài chính nó.
Okada Toru – nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết đã phá dỡ những bức tường đang ngăn cách anh và vợ thông qua việc chui xuống đáy giếng cạn khô trong căn nhà bỏ hoang để xuyên tới thế giới song song – căn phòng khách sạn 208. Trong thế giới của Murakami, những không gian song song như “đáy giếng” hay “căn phòng 208” không đơn thuần là thế giới kỳ ảo, mà là chốn dung thân của những bản thể bị khuất lấp của con người. Chúng tồn tại như một sự phơi bày tất yếu những “thực-tại-bị-giấu-kín” mà thế giới của một trật tự duy lý đã khước từ. Điều này phát lộ một nghịch lý thẩm mỹ: việc chui xuống đáy giếng sâu thẳm, tối tăm nhất lại chính là hành trình đi xuyên qua nỗi tuyệt vọng để tìm thấy hy vọng – hy vọng được mở phơi bản thể thật của con người. Quả thực, ở nơi đó, Kumiko không còn đeo lớp mặt nạ của người vợ bình thường, hạnh phúc, mà hiện lên với khuôn diện người đàn bà bí ẩn mà Toru – chồng nàng không thể nhận ra. Sự mờ nhòe trong chiều kích tồn tại của người đàn bà, chính là ẩn dụ cho vùng mờ của sự bất khả tri giữa “ta “ với “kẻ khác”, giữa con người với những hiện hữu ngoài mình. Như cách người đàn bà ấy (Kumiko) thổ lộ với Toru trong căn phòng 208: “Anh biết tôi rất rõ. Tôi biết anh rất rõ. Tôi muốn anh khám phá tên tôi. Nếu anh tìm được tên tôi, tôi sẽ ra khỏi nơi này được. Thậm chí có thể giúp anh cứu vợ”. Nếu như “tôi” biết “anh” rất rõ, và “anh” cũng biết “tôi” rất rõ, vậy vì sao Toru vẫn không nhận ra người đàn bà ấy là ai? Phải chăng, chúng ta và tha nhân luôn trôi dạt trong những đường biên khác nhau của tồn tại, chúng ta ngỡ đã biết về nhau nhưng rốt cuộc là chẳng biết gì? Cái mà Kumiko và Toru “biết” về nhau, vốn dĩ chỉ là hình ảnh phẳng dẹt được kiến tạo bởi các vai trò xã hội (chồng/vợ). Vậy nên, cái “tên” mà người đàn bà ấy muốn Toru tìm thấy, không gì khác, chính là cái bản thể trần trụi của người vợ bên anh suốt 6 năm trời. “Tên” của người đàn bà ấy? Kumiko. Nhưng không phải Kumiko nơi thực tại, mà là một Kumiko của nhục cảm, mặc cảm ô uế, cô đơn, nỗi sợ hãi cái Ác di truyền. Từ đó, thế giới song song trong tiểu thuyết của Murakami hiện lên là một sự đối lập với hiện thực duy lý, là không gian tất yếu để cái phần “vắng mặt”, “thiếu hụt” trong hiện thực được hiện diện. Vậy, cuộc hành trình thâm nhập vào thế giới song song – căn phòng 208 của Okada Toru, chính là cách để phá dỡ bức tường của những lớp mặt nạ hoàn hảo mà giải phóng những phần bóng tối, hỗn độn và hỏng hóc trong tồn tại của người vợ Kumiko. Khi đó, con người không còn phải khoác lên những chiếc mặt nạ, mà được phép hiện hữu với phần thực nhất của mình, ngay cả khi, đó là bóng tối bất toàn. Như thế, giữa Kumiko và Toru, không còn hiện hữu những bức tường phân cách. Họ không còn phải đeo mặt nạ khi sống chung với nhau. Họ không còn phải giấu đi những phần xấu xí của mình. Họ không còn phải gặm nhấm nỗi cô đơn vì những nỗi đau không thể chia sẻ. Họ không còn trôi dạt trong những đường biên khác nhau mà những điều họ biết về nhau chỉ là hình ảnh phẳng dẹt được kiến tạo bởi các vai trò xã hội (chồng/vợ) nữa. Con người lúc này được tái kết nối với nhau trong một liên kết thiết thân hơn – liên kết giữa những bản thể thực, căn tính thực, con người thực. Tôi nhận ra, con người chỉ có thể phá dỡ những bức tường khi dám sống thực và chấp nhận cái thực của đối phương và chính mình.
Niềm hy vọng phá dỡ bức tường của Toru với Kumiko, mặt khác, cũng là niềm hy vọng được thoát khỏi một bản thể vô dụng của Toru. Trước đó, Toru luôn trong tình thế bị động, không có quyền nắm giữ cuộc đời. Anh là một kẻ thất nghiệp, bị vướng vào hàng tá những rắc rối kỳ lạ mà anh không thể lý giải, chẳng bao giờ có thể chủ động tìm gặp người khác mà chỉ có thể đợi người khác tự tìm gặp mình. Song, niềm hy vọng phá dỡ những bức tường giữa anh và người vợ Kumiko đã cho Toru tái sinh thành một con người khác – con người của sự chủ động định đoạt đời mình. Không còn là một kẻ thất nghiệp vô dụng, Toru dấn thân vào một cuộc chiến thực sự với các thế lực độc ác, dám đối diện với vô thức, chấn thương, ký ức, thậm chí là cái chết để có thể giải cứu người vợ đã bên anh suốt 6 năm trời. Toru lúc này không còn là con chim bị vặn dây cót một cách thụ động bởi số phận, mà đã tự vặn dây cót cho cuộc đời mình. Có thể nói, niềm hy vọng vượt thoát khỏi sự trôi lạc, phân ly, thoát khỏi ranh giới ngăn cách của Toru cũng chính là niềm hy vọng vượt thoát khỏi sự vô nghĩa và bị động mà trở thành chủ thể trong việc tái định nghĩa cuộc đời.
Giữa một thời đại của sự phân cực, mất kết nối, những trang viết của Murakami đã dấy lên trong tôi niềm hy vọng để kiếm tìm sự tái kết nối giữa người-người. Giữa hàng loạt cái “tên”, tôi vẫn muốn đi tìm cái “tên” thật mà con người chôn giấu. Giữa muôn vàn mặt nạ, tôi vẫn muốn đi tìm cái mặt thật dường như đã đánh mất của con người. Giữa muôn trùng vách ngăn, tôi vẫn muốn đạp đổ tất cả mà đan kết lại những sợi dây kết nối đã đứt gãy. Người sống với người thế nào? Phải chăng như đất, nước hay cỏ:
“Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
– Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?”
(“Hỏi” – Hữu Thỉnh)
