“ĐỊA ĐÀNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG”: MỘT CUỘC TRUY NGUỒN CỦA STEPHEN OPPENHEIMER
Người viết: Trọng Uyên
Dẫn nhập
Ai là những con người đầu tiên sinh sống trên trái đất này? Họ từng sống ở đâu và kiến lập nên những nền văn minh cổ đại đầu tiên như thế nào? Họ đã để lại gì cho chúng ta, từ vật chất đến tinh thần? Những câu hỏi này, trước đây, bây giờ và cả sau này, nhân loại vẫn luôn đau đáu đi tìm, không phải chỉ để biết cái gì từng có đó, mà còn hiểu được cái gì hiện có và làm nên con người hiện thời, dù trong tư cách cộng đồng hay cá nhân. Những gì mà Stephen Oppenheimer thực hiện trong “Địa đàng ở phương Đông” (nguyên tác: “Eden in the East”; công bố: 1998) một mặt gạt bỏ những thiên kiến, ngộ nhận lâu nay về mặt khoa học liên quan đến những câu hỏi nêu trên, mặt khác nỗ lực đi tìm câu trả lời thuyết phục hơn. Kết luận ông đưa ra, cũng là giả thuyết khiến ông thực hiện công trình này, chính là “Đông Nam Á là một trong những khu vực trù phú và có nền văn hoá đa dạng và cổ xưa nhất trên Trái đất” và không phải là sản phẩm phái sinh từ nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.

Một cuộc truy nguồn
Người phương Tây khi đến khu vực Đông Nam Á (ĐNA) đã gọi nơi đây là Indochine – người Việt ta quen gọi là Đông Dương, nhưng thực ra phải gọi là Ấn-Hoa hay Ấn Độ-Trung Hoa. Tên gọi này, nếu nói như Stephen Oppenheimer, phản ánh quan điểm phiến diện và có phần ngạo mạn văn hoá của người phương Tây. Dĩ nhiên tác giả cũng đưa ra những lý giải khoa học cho điều này, trong đó có hai nguyên nhân khách quan: một là thiếu các văn bản viết về thời tiền Ấn Độ, hai là hầu hết các di chỉ đều nằm dưới lòng biển. Kể từ lúc danh từ Indochine được đặt ra đến thời điểm Stephen Oppenheimer công bố công trình “Địa đàng ở phương Đông” lần đầu vào năm 1998 thì khoa học đã có nhiều bằng chứng hơn, đủ để tác giả có thể khảo xét về sự cổ đại (ở Phần I) và sự tinh tế độc đáo (ở Phần II) của khu vực ĐNA.
Khu vực ĐNA tác giả nói đến trong công trình này không chỉ gồm hải đảo và lục địa như hiện nay, mà là ĐNA trong kỷ nguyên Băng Hà, “một lục địa khổng lồ, một khu vực đất đai rộng lớn bao gồm Indochine, Malaysia và Indonesia.” Sau kỷ này, nước biển đột ngột dâng cao trong ba đợt, chia cắt lục địa này thành các quần đảo như hiện nay. Đó là câu trả lời từ địa chất. Ở Phần I của công trình, tác giả sẽ còn xem xét từ góc độ khảo cổ với những di vật đã được tìm thấy, từ đó ta thấy như nghề làm gốm tại ĐNA có trước khu vực Lưỡng Hà, Ấn Độ và Địa Trung Hải, nghề trồng lúa nước đã có ở ĐNA trước đợt biển tiến cuối cùng. Từ đó, Stephen Oppenheimer nhận xét là các cư dân ĐNA đã di cư tuần tự sang phía Tây về phía Ấn Độ (và cả Thái Bình Dương). Để củng cố nhận định này, tác giả đã khảo chứng thêm vấn đề ngôn ngữ, cụ thể là ngữ hệ Nam Đảo; và di truyền học, với mẫu Polinesia. Cuối cùng tác giả khẳng định “thổ dân ở ĐNA nằm ở rễ của cây phả hệ châu Á,” và ĐNA là “trung tâm của các phát minh từ sau kỷ Băng Hà. […] Những tư tưởng từ khu vực này đã lan toả ra nhiều nơi khác và dẫn đến nhiều đột phá về kỹ thuật.”
Không chỉ kỹ thuật, tác giả còn cho rằng song song đó là sự chuyển giao văn hoá hay sự khuếch tán tư tưởng. Nhờ sự chuyển giao công nghệ và văn hoá thời tiền sử ấy mà nền văn minh Lưỡng Hà được hình thành. Đó là kết luận mà Stephen Oppenheimer sẽ đưa ra sau khi khảo xét thêm truyện kể dân gian, cụ thể là các thần thoại, vì đó là “những cách biểu đạt sớm nhất của con người về tổ tiên của mình.” Tác giả, khi kế thừa nhiều công trình quan trọng trước đó, đã khẳng định nhiều truyền thuyết là “những câu chuyện phúng dụ về thời tiền sử.” Ngôn ngữ có thể biến đổi nhưng truyện kể dân gian “lại được lưu giữ một cách chủ ý.” Trước hết, tác giả khảo sát các huyền thoại về đại hồng thuỷ. Nếu đặt gần nhau, những huyền thoại này sẽ giúp vẽ lại phả hệ các kiểu truyện kể vè thời tiền sử; từ đó, tác giả xác định “bốn kiểu truyện kể ở Âu – Á có cội nguồn từ các huyền thoại đại hồng thuỷ ở ĐNA,” và xa hơn thế nữa, “mỗi nguyên mẫu phương Tây đều có nguồn gốc phương Đông.”
Lời kết
Chính Stephen Oppenheimer, sau khi khảo xét qua nhiều vấn đề, cũng thừa nhận rằng có quá ít những bằng chứng đầy đủ và hoàn chỉnh. Do đó mà vẫn còn nhiều khoảng trống cần kiểm xét một cách tỉ mỉ hơn. Ít nhất tác giả cũng đủ cơ sở để khẳng định “Địa đàng/Vườn Eden” thực sự ở phương Đông: Ý tưởng về Địa đàng như là một thiên đường bị đánh mất là khái niệm mang đặc trưng Nam Đảo. Dầu “những gì còn lại ở ĐNA ngày nay chỉ có thể mang lại cho chúng ta một ý nghĩ mơ hồ nhưng day dứt về một Vườn Địa đàng đã từng tồn tại” nhưng chúng vẫn trao cho Việt Nam, một quốc gia ở ĐNA, những hiểu biết sâu sắc về nguồn gốc văn minh và văn hoá của chính mình.